Để đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình học phí trong khối ngành y tế hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thiện báo cáo về việc thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP. Nghị định này quy định về việc thu, quản lý học phí trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như chính sách miễn, giảm học phí hỗ trợ chi phí học tập.
Nội dung báo cáo nhấn mạnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt là việc cân đối nguồn lực cho chính sách miễn giảm học phí và tình hình thu học phí trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học công lập. Dựa trên báo cáo, nhiều giải pháp đã được đề xuất để hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện cho giai đoạn tới. Đề Xuất Nâng Cao Chính Sách Hưu Trí Xã Hội Từ Tuổi 70 Đẩy Mạnh Phát Triển Y Dược Cổ Truyền Theo Chỉ Đạo Chính Phủ Khám Phá Tầm Soát Ung Thư Sớm: Những Câu Chuyện Cần Nghe
Học Phí Phân Hóa Theo Từng Đơn Vị
Nghị định số 238/2025/NĐ-CP đã cụ thể hóa mục tiêu đổi mới tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Quy định này gắn chặt lộ trình điều chỉnh học phí với mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học. Các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 3, Nhóm 4) có mức trần học phí được xác định cố định theo từng nhóm ngành, trong khi các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 2) hoặc tự bảo đảm cả chi thường xuyên và đầu tư (Nhóm 1) có mức trần học phí dựa vào hệ số tương ứng.
Bên cạnh đó, những chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng có thể xác định mức học phí căn cứ vào định mức kinh tế – kỹ thuật và chi phí đào tạo thực tế.

Định mức học phí đối với cơ sở giáo dục đại học công lập năm học 2025- 2026 theo các mức tự chủ Đơn vị: Nghìn đồng/người học/tháng. Nguồn: Bộ GD&ĐT
Khảo sát từ 58 cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức học phí có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm ngành đào tạo và giữa các cơ sở với mức độ tự chủ tài chính khác nhau.
Tại nhóm cơ sở tự chủ tài chính (Nhóm 1 và Nhóm 2), học phí thực tế vẫn thường thấp hơn mức trần cho phép, với tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần dao động từ 50% đến 100%. Các ngành như Nghệ thuật, Khoa học tự nhiên và Y học – Dược học đều ở mức cao, thường đạt trên 90% mức trần quy định. Nhiều chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng quốc tế là nguyên nhân chính khiến học phí vượt trần.
Trong khi đó, các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 3 và Nhóm 4) có học phí thực tế hầu hết ở mức tiệm cận hoặc bằng mức trần quy định, với tỷ lệ bình quân giữa mức học phí và mức trần dao động từ 99% đến 103%. Điều này chứng tỏ rằng khả năng điều chỉnh học phí cho nhóm cơ sở này không còn nhiều.
Khối Ngành Sức Khỏe: Mức Học Phí Cao Nhất
Báo cáo của Bộ GD&ĐT chỉ ra rằng khối ngành Sức khỏe hiện đang có mức học phí cao nhất trong tất cả các ngành đào tạo. Nhiều chương trình thuộc lĩnh vực y khoa, dược học, điều dưỡng vẫn đang áp dụng mức học phí cao hơn rất nhiều so với các ngành khác.
Đối với các cơ sở tự bảo đảm, học phí tối đa của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 82,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 174,2% mức trần); nhóm Y học và Dược học đạt 79,5 triệu đồng/người/năm (tương đương 127,8% mức trần).
Tại nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí bình quân của các ngành Sức khỏe cũng cao hơn rất nhiều so với nhóm ngành khác. Tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần đối với nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 152,9%, trong khi mức tối đa lên tới 273,3%; nhóm Y học và Dược học có tỷ lệ tương ứng là 139,9% và 196,5%. Trong khi đó, các nhóm ngành khác chỉ rơi vào mức trần hoặc thấp hơn mức trần đã đề ra.
Tình trạng này phản ánh đặc thù của ngành Sức khỏe với yêu cầu cao về học thực hành, hệ thống cơ sở thực hành, trang thiết bị chuyên môn và giảng viên có trình độ cao. Đó cũng là lý do ngành này có chi phí đào tạo thực tế cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học hiện tại.
Các cơ sở đào tạo nổi bật như Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế đã kiến nghị xem xét lại mức học phí cho ngành Răng – Hàm – Mặt, đề xuất rằng ngành này cần được xếp vào cùng nhóm học phí với ngành Y học và Dược học để phản ánh đúng đặc thù đào tạo và nhu cầu chất lượng.
Giáo dục y khoa Việt Nam trước bước ngoặt đổi mới và hội nhập quốc tế